Thành phố hiện đại, đại đô thị hiện đại không chỉ là toà nhà chọc trời, đường cao tốc, đấy chỉ là phần vật chất. Thành phố hiện đại là trải nghiệm của chúng ta về thành phố, trải nghiệm khu vực trong tầm ngoại vi, cho nhóm xã hội cao cấp lẫn nhóm xã hội ngoài lề. Tất cả những cái đấy đều là câu chuyện của thành phố hiện đại. Chúng ta có cái nhìn đa chiều, sâu sắc hơn với những gì những gì diễn ra ngoài kia.
Cách tiếp cận mới về lịch sử đô thị
Khác với những cuốn sách khác của ngành đô thị mô tả tiến trình, diễn biến của lịch sử đô thị, cuốn sách “Lịch sử đô thị hiện đại” tiếp cận, nghiên cứu đô thị Phương tây từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX theo các trường phái, khía cạnh đô thị khác nhau và có sự so sánh với nhau. Đô thị là một thực thể phúc tạp, trong đó có nhiều lĩnh vực vì thế nó có nhiều góc độ để nghiên cứu: kinh tế, kỹ thuật…. Mỗi trường phái đô thị đều trả lời cho câu hỏi “Bản chất Đô thị là gì?”
Ví dụ, về mặt xã hội học đô thị, họ đưa ra quan điểm về các tiên đề: đô thị là một quá trình về xã hội học, từ đó dẫn đến sự xuất hiện về mặt không gian. Đó là quy luật, hiện tượng về xã hội học đặc thù của đô thị, dẫn đến một số hệ quả, không gian đô thị.
Mỗi trường phái, họ có niềm tin về không gian, kiến trúc khác nhau nhưng đều trả lời câu hỏi: “Theo trường phái đó, yếu tố nào là quan trọng”
Ví dụ, Ngành kiến trúc, trường kiến trúc, trường xây dựng được cho là đối tượng được cho dạy và làm về quy hoạch quy hoạch, do niềm tin về bản chất đô thị là không gian xây dựng. Nhưng nó không đúng với tất cả trường phái học thuật. Nhiều trường phái khác lại cho rằng không gian xây dựng đó là hệ quả của các câu chuyện sau đó.
Một câu hỏi khác, Nên làm nhà chia lô hay nhà chung cư? Nếu không gian xây dựng thì ngành xây dựng sẽ góp ý về nhà chia lô (hoặc chung cư) đẹp, thẩm mỹ, thị hiếu. Từ góc độ kinh tế, người ta đánh giá theo tỷ lệ giữa thành phần kinh tế tự do và thành phần kinh tế không tự do. Tỷ lệ người làm công ăn lương thì tỷ lệ sử dụng chung cư cao, do đặc điểm chi tiêu, tư duy của họ.
Mô hình quản trị đô thị
Chương 4, Lịch sử đô thị hiện đại, bàn về quản trị đô thị, mô hình đô thị, cách thức quản lý đô thị chuyển biến về cách thức quản trị đô thị. Lý giải về Cách thức quản lý đô thị là các hoạt động xã hội đều do chính quyền quản lý. Sau đó, được chuyển hoá sang quản trị đô thị, lúc này bản thân chính quyền cũng là 1 đối tượng được quản lý. Mô hình quản trị đô thị được phát triển theo dòng lịch sử.
Ở thế kỷ XVII., XIX, ở Pháp xã hội xuất hiện 3 nhóm tinh hoa:
• Nhóm thứ nhất, tinh hoa chính trị bao gồm nhà chính trị, quản lý đô thị có chức sắc trong thành phố,
• Nhóm thứ hai, tinh hoa kinh tế bao gồm chủ doanh nghiệp lớn, đóng góp nhiều thuế cho nhà nước,
• Nhóm thứ ba, thủ lĩnh tinh thần bao gồm tri thức, tư bản có điều kiện kinh tế, tổ chức ra trường học, quỹ trên tinh thần tự nguyện và có nahr hưởng rất tổt.
Dần dần việc quản lý quyền lực chính quyền có thêm nguồn lực từ xã hội dân sự của các thủ lĩnh tinh thần thông qua các nhóm từ thiện, quỹ. Vai trò của nhóm thứ ba được thể hiện, xã hội có sự liên kết xã hội và chuyển dịch sang mô hình quản trị đô thị
Điều gì là căn tính của mô hình quản trị hiện đại?
Cuốn sách có nêu ra 3 yếu tố:
• Một sự rảnh rọt giữa khu vực công và khu vực tư về luật pháp và mô hình vận hành
• Cung ứng các dịch vụ xã hội, dịch vụ đô thị cho xã hội (nước sạch, điện, vệ sinh môi trường, phóng cháy chữa cháy…)
• Tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của chính quyền.
Trong lĩnh vực đô thị có nhiều niềm tin về cái gì là cái cơ bản. Trong đó có trường phái quản trị đô thị, nó cho rằng bản chất đô thị hoạt động như thế nào phụ thuộc vào bộ máy quản lý và ý chí chính trị để quản trị không gian đô thị đó.
Cần đưa ra các chương trình, hệ thống, bộ máy quản trị chứ không phải là planning, họ cho rằng master plan không có tác dụng gì? Họ cho rằng, không cần quan tâm đến quy hoạch đô thị, mà cần tạp trung vào cơ chế quản lý. Khi có cơ chế tốt, mọi sự có thể tốt. Ở Việt Nam, vẫn đi theo một quan điểm, master plan là công cụ chứ management không phải là một công cụ. Chúng ta gần như không có một hệ thống nào cho management cả mà chúng ta quản lý bằng master plan trên cơ sở phù hợp hay không phù hợp với master plan. Xuất phát từ niềm tin là không gian xây dựng, do kiến trúc sư vẽ ra, tài nguyên môi trường sẽ đóng góp ý kiến, sau đó sẽ đánh giá match hay không match. Về cơ bản, Việt Nam không có hệ thống quản trị đô thị.
Quản trị đô thị có lịch sử của nó, có nhà nghiên cứu đã đi sâu nghiên cứu bằng những bằng chứng khách quan rằng “các mô hình khác nhau tạo ra các đô thị, sản phẩm không gian, thiết chế khác nhau, dần chuyển biến khác nhau.”
TS. KTS Phó Đức Tùng cũng đưa ra ý kiến ràng: “Nếu chính quyền Việt nam tin rằng công cụ mà chính quyền có thể có để quản lý đô thị là urban managenment thì sẽ có các công urban mangement, ví dụ như, công cụ quản lý dự án dẫn đến minh bạc và tham gia từ trên xuống dưới. Nó liên quan đến việc design một hệ thống, một chuỗi vận hành, từ đó tạo ra không gian. Còn hiện nay, chúng ta (Việt Nam) đang design không gian.”
Vấn đề Khu ổ chuột
Sản phẩm không gian là sản phẩm của các vận động khác về kinh tế, xã hội. Đồng thời nó cũng là tác nhân cho những xung đột xã hội.
Chương 2 có nói về không gian đô thị và các căn tính của công đồng, sự phân chia không gian xã hội trong thành phố. Cấu trúc của thành phố là cấu trúc xã hội bởi các nhóm xã hội khác nhau, cư trú ở khu vực khác nhau. Và quá trình đó, cùng một thời gian sẽ tạo thành những không gian của các cộng đồng khác nhau. Có những khu vực dành cho những người có địa vị cao, nhưng cũng có những khu vực cho những người nghèo, được gọi là khu ổ chuột. Ở Việt Nam không có nhiều khu ổ chuột xuất hiện, những nó vẫn đang tồn tại. Khi bạn đến khu vực qua chợ Đồng Xuân, bạn sẽ thấy khu vực mà người lao động sống hoàn toàn trên rác. Họ có thể là người bán hàng rong, chạy xe ôm,… Họ vẫn có nhà ở quê nhưng họ gửi con cho cha mẹ ở quê và lên thành phố sống, chấp nhận sống điều kiện khiêm tốn về cơ sở vật chất để mưu sinh. Số lượng những người lao động như vậy là rất nhiều.
Ở Ấn độ có những khu ổ chuột, với 40.000 dân chỉ có 10 nhà vệ sinh công cộng. Một ví dụ khác với 25.000 dân chỉ có 2 nhà vệ sinh công cộng. Đây là một thực tế. Các nhóm dân cư được tự nguyện chọn lựa hoặc vì hoàn cảnh bị đẩy đến các vùng không gian khác nhau. Đôi khi ta chỉ nhìn thành phố với người dân và chính quyền, và nó không đúng. Bởi xung quanh chúng ta có vô vàn các nhóm, các nhóm đó cũng đấu tranh, xung đột lẫn nhau. Chủ sở hữu của những khu ổ chuột lại chính là những người trung lưu, họ cho những người nghèo thuê và họ dùng tiền đó đầu tư cho môi trường sống tốt hơn.
Có thể nói rằng: “Làm đô thị không đơn giản là làm quy hoạch đô thị, mà nó có nhiều vấn đề ở phía đằng sau.”
Vấn đề giới.
Từ câu chuyện khu ổ chuột ở Ấn Độ, nó dẫn đến câu chuyện kinh khủng nhất của Nữ giới. Vì không có nhà tắm nên họ thường tắm vào ban đêm và trở thành nạn nhân của những cuộc tấn công tình dục, hay không dám ăn uống vì không có nhà vệ sinh. Đến khi chính phủ muốn thu hồi đất làm thế vận hội, hoa hậu hoàn vũ, thì chính những người phụ nữ ấy lại đứng lên để bảo vệ mảnh đất đó. Bởi họ hiểu rằng, nếu họ đi đến một chỗ khác cũng chỉ tồi tệ hơn thôi. Giới tính và tính dục cũng là một trường phái, tưởng không quan trọng, nhưng hoàn toàn ảnh hưởng đến sự hình thành và cung ứng không gian cho xã hội.
KTS Phó Đức Tùng đã lý giải thêm, Lĩnh vực xã hội học đô thị tin rằng cái gọi là đô thị là tập hợp đông người trên một diện tích có nhu cầu khác nhau, form văn hoá khác nhau tạo nên cấu trúc và yếu tố không gian. Ngược lại, chúng ta cũng có thể tác động vào không gian để thu hút các đối tượng khác nhau. Tất cả không gian đô thị đều có background. Ở lĩnh vực xã hội học đô thị thì đó là các quy luật xã hội.
Người ta tin rằng một loại không gian sẽ phù hợp với một số cấu trúc. Vai trò của nam giới, nữ giới trong từng lĩnh vực sẽ ảnh hưởng đến quyết định của nam giới trong lĩnh vực này và những lĩnh vực khác thì nữ giới sẽ quyết định.
Nếu lịch sử đô thị, nghiên cứu về khu ổ chuột thì các nhà nghiên cứu, phân tích sẽ biết background của nó là gì, giá trị nằm ở đâu. Từ đó, dẫn đến một loạt các khu ổ chuột sẽ được bảo vệ, bảo tồn. Ví dụ: Khu phố cổ Hà Nội. Nếu người bình thường thường thấy nguời dân ở đây bị chế độ áp bức, khi phải ở trong những ngôi nhà xập xệ, không được sửa chữa lại. Chính quyền lại tin vào việc lo cho dân, tìm cách di dời người dân sang khu khác. Người dân có sự lựa chọn, được di dời ra phố cổ, tại sao người ta chấp nhân ở lại? Bởi họ nhìn được giá trị của khu phố cổ. Và Lịch sử đô thị hiện đại sẽ chỉ ra những giá trị của sự bảo tồn đó. Chúng ta nhìn từ bên ngoài mà không nhìn từ góc độ học thuật dễ dẫn đến định kiến. Vì vậy, khi nhìn nhận một vấn đề đô thị cần nhìn được lý do tồn tại và giá trị của vấn đề.
—
Độc giả có thể tìm đọc cuốn “Lịch sử đô thị hiện đại” để có cái nhìn mới mẻ, đa chiều về đô thị tại shopee hoặc tiki của Quảng Văn Books. Cuốn sách hiện tại có 2 phiên bản: Bìa cứng và bìa mềm để đọc giả lựa chọn.
► Tiki: https://tiki.vn/sach-lich-su-do-thi-h…
► Shopee miền Nam: https://shopee.vn/product/270437751/1…
► Shopee miền Bắc: https://shopee.vn/S%C3%A1ch-L%E1%BB%8…
—
Và đừng quên nhấn đăng ký/theo dõi
► YouTube: https://www.youtube.com/channel/UCtNY...
► Fanpage: https://www.facebook.com/iper2021
► Website: https://iper.org.vn/
#IPER #dothihiendaithekyXX #lichsudothihiendai